CÂU CHUYỆN VỀ DẦU MỎ, BOM ĐẠN VÀ ĐÔ LA MỸ.

Có thể nói, giá trị của đồng đô la Mỹ cũng chính là một phần khiến Mỹ trở thành cường quốc kinh tế số 1 thế giới. Nhưng bạn có biết người ta căn cứ vào đâu để định ra tỷ giá, độ mạnh yếu giữa các đồng tiền không?
Các bạn có biết vì sao Mỹ luôn nhắm vào các quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn không? Là để ăn cướp, nhưng bản chất của cuộc ăn cướp ấy là gì?
Trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu về giá tri/bản chất đồng đô la Mỹ. Cũng như lý do vì sao Mỹ lại là kẻ hiếu chiến bậc nhất thế giới. Bài viết rất dài, nhưng tôi nghĩ sẽ không phí 15′ cuộc đời bạn đâu.
1. Bretton Woods – thỏa thuận đồng tiền bản vị vàng.
Sau Chiến tranh thế giới I, các quốc gia đã cố gắng phục hồi lại hệ thống bản vị vàng đã sụp đổ hoàn toàn trong cuộc Đại khủng hoảng 1930. Năm 1944, 730 đại biểu đến từ 44 quốc gia đã gặp nhau tại Bretton Woods, New Hampshire, để để xây dựng hệ thống tài chính thế giới sau chiến tranh, tránh nguy cơ tái diễn khủng hoảng kinh tế. Tại đây, các nước đã thống nhất thành lập ra một hệ thống tài chính được gọi là Bretton Woods – bao gồm Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và chế độ tỷ giá hối đoái cố định được xây dựng quanh đồng đôla Mỹ gắn với bản vị vàng.
Do tại thời điểm đó nước Hoa Kỳ chiếm hơn một nửa tiềm năng sản xuất của thế giới và giữ gần như toàn bộ lượng vàng của thế giới nên các nhà lãnh đạo quyết định gắn các đồng tiền thế giới với đồng đôla, đồng tiền mà tiếp sau đó được họ đồng ý đổi ra vàng ở mức 35 USD một ounce.
Dưới hệ thống Bretton Woods, các ngân hàng trung ương của các nước trừ Hoa Kỳ phải có nhiệm vụ duy trì tỷ giá hối đoái cố định giữa các đồng tiền của họ với đồng đôla. Họ làm điều này bằng việc can thiệp vào các thị trường ngoại hối. Nếu đồng tiền của một nước quá cao so với đồng đôla thì ngân hàng trung ương của nước đó cần phải bán tiền của mình để đổi lấy đôla, đẩy giá trị của đồng tiền đó xuống. Ngược lại, nếu giá trị đồng tiền của một nước quá thấp thì nước đó cần phải mua vào tiền của chính mình, do vậy sẽ đẩy giá của đồng tiền đó lên.
Rõ ràng, cách bố trí Bretton Woods cung cấp một lối thoát hiểm: nếu một quốc gia cụ thể không còn cảm thấy thoải mái với đồng đô la, họ có thể dễ dàng chuyển đổi đồng đô la của họ thành vàng. Bởi thế, lập tức tạo ra nhu cầu toàn cầu mạnh mẽ đối với đô la Mỹ như là phương tiện trao đổi được ưu tiên.
2. Chính phủ Mỹ không có quyền in đô la Mỹ.
Chính phủ Mỹ, trên danh nghĩa, hưởng lợi từ điều này. Đáng tiếc là chính phủ Mỹ “có tiếng nhưng không có miếng” khi quyền in tiền nằm trong tay Ngân hàng Trung ương tư nhân và Cục dự trữ Liên Bang (FED).
(Đạo luật “Federal Reserve Act” mà Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson ký ngay trước ngày Noel 1913 đã tước bỏ hoàn toàn chức năng in tiền giấy của Chính phủ Mỹ. Và sự thật là kể từ khi FED đoạt được quyền in tờ giấy bạc này, cứ bao nhiêu tờ tiền đôla xanh in ra là người dân Mỹ phải chịu nợ FED bấy nhiêu.
Để dành quyền in tiền cho chính phủ, ngày 4/6/1963, J. Kennedy ký sắc lệnh tổng thống No. 11110, theo đó, trao quyền in tiền cho Bộ tài chính Mỹ. Đây là các tờ 2 USD và 5 USD mang dòng chữ “A banknote of the United States” thay vì là “A banknote of the Federal reserve” đã được in ra.
Kennedy đã làm điều này đúng luật, trả lại quyền in tiền cho chính phủ Mỹ. Tuy nhiên, các lãnh đạo FED lại không thích điều này, huống chi chính họ là thế lực ủng hộ Kennedy lên ghế tổng thống. Họ lo sợ tương lai Kennedy sẽ đẩy FED ra khỏi quyền in tiền.
Vậy là vào ngày 22 tháng 11 năm 1963 Kennedy bị ám sát. Tiếp theo Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ (1963-1969) là Lindon Johnson lên cầm quyền thì “Chứng chỉ bạc trắng” đã dần bị loại khỏi lưu thông. Kể từ đó, chẳng còn TT Mỹ nào dám thử tự in tiền nữa, cho dù sắc lệnh tổng thống No.11110 vẫn còn nguyên hiệu lực (bất kỳ ai lên thay Kennedy bãi bỏ sẽ trái luật).
Rốt cuộc, FED vẫn nắm chắc quyền in tiền và do đó, người thụ hưởng chính của nhu cầu toàn cầu tăng lên đối với đồng USD là ngân hàng trung ương Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang…
3. Bretton Woods (bản vị vàng) tan vỡ, Petrodollars (bản vị dầu mỏ) lên ngôi
Hệ thống Bretton Woods đã kéo dài cho tới năm 1971. Tại thời điểm đó, lạm phát và thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ gia tăng đã làm suy giảm giá trị đồng đôla. Người Hoa Kỳ cố thuyết phục Đức và Nhật Bản, là hai nước đều có cán cân thanh toán thuận lợi, tăng giá trị các đồng tiền của họ. Nhưng các quốc gia này miễn cưỡng chấp nhận bước đi này, vì việc tăng giá trị đồng tiền của họ sẽ làm tăng giá hàng hóa của các nước đó và gây tổn hại đến xuất khẩu của họ.
Dưới thời Johnson cầm quyền, cuộc chiến Việt Nam đã khiến nợ quốc gia của Mỹ là 354 tỷ USD, đến thời Nixon cuộc chiến chưa kết thúc đã khiến chính phủ Mỹ mắc nợ thêm 121 tỷ đưa tổng số nợ lên 475 tỷ USD, một con số kỷ lục khổng lồ, từ đó dẫn tới lạm phát. Rất nhiều quốc gia lo sợ và họ mang USD dự trữ để đổi lấy vàng từ Mỹ, dự trữ vàng của Mỹ ở mức thấp nhất ở mọi thời đại.
Ngày 15/8/1971, Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố “đóng cửa sổ vàng”. Theo đó, đồng đô la Mỹ chính thức từ bỏ tiêu chuẩn vàng. Thỏa thuận Bretton Woods tan vỡ.
Sự phát triển của loài người đã trải qua nhiều thời kỳ đồ đá, đồ đồng….và bây giờ là thời dầu mỏ. Khác với vàng, dầu mỏ dùng để sản xuất, tiêu thụ, hoạt động mà thiếu nó loài người trở về thời kỳ trung cổ. Do vậy, dầu mỏ và thành phần của nó hầu như có mặt trong toàn bộ đời sống, hoạt động của loài người hiện đại. Vì thế, ai làm chủ được nguồn cung dầu mỏ là làm chủ được nền kinh tế toàn cầu.
Giới tinh hoa Mỹ đã nhìn thấu điều này. Họ đã nhắm tới Arabia Saudi, quốc gia có trữ lượng và số lượng khai thác dầu mỏ lớn bậc nhất thế giới, Vậy là thỏa thuận Mỹ-Arabia Saudi ra đời.
Theo đó: Mỹ sẽ bảo kê cho Arabia Saudi. Mỹ cũng đồng ý cung cấp vũ khí cho Saudi, và có lẽ quan trọng nhất là đảm bảo bảo vệ ngai vàng hoàng tộc nhà Saudi khỏi bị Israel xâm lược, lật đổ (thời đó Israel được coi như một quốc gia “sát thủ”, hùng mạnh trong cuộc chiến Trung Đông).
Đổi lại, Arabia Saudi phải đáp ứng 2 điều khoản. Nhà nước Saudi phải từ chối tất cả các loại tiền tệ khác để thanh toán cho việc mua dầu mỏ ngoại trừ đồng đô la Mỹ. Arabia Saudi sẽ mở cửa cho đầu tư tiền dư thừa thu được từ bán dầu của họ vào chứng khoán nợ của Hoa Kỳ.
Sau Arabia Saudi, lần lượt là toàn bộ các nước Ả Rập tại Trung Đông. Năm 1975, toàn bộ OPEC cũng đều thực hiện 2 điều khoản này để đổi lấy cam kết của Mỹ.
5. Sức mạnh của Petrodollars đã khiến Mỹ đã mạnh còn mạnh hơn.
Cả thế giới này quốc gia nào cũng cần dầu, mua dầu, vậy làm sao có đô la Mỹ để mua? Vậy là họ xuất khẩu giá rẻ sang Mỹ, người tiêu dùng Mỹ được hưởng lợi lớn từ các quốc gia trên thế giới.
Chẳng hạn, Nhật Bản có rất ít tài nguyên thiên nhiên nên phải nhập khẩu một số lượng lớn hàng hóa, bao gồm dầu mỏ. Muốn có nhiều tiền đô la Mỹ để mua dầu thì tất cả các hàng hóa phải ưu tiên xuất sang Mỹ để thanh toán tiền đô la.
Trung Quốc trước đây, khi Nga chưa nổi đình nổi đám như hiện nay, cũng vậy thôi đều coi Mỹ là thị trường lớn, sống còn, là “công trường thế giới” (chủ yếu của Mỹ) mà không có nó thì không chỉ thất nghiệp mà không có đô la để mua dầu…
Tất nhiên, Mỹ có thể dùng đô la Mỹ, “bản chất là một tờ giấy” mà chỉ duy nhất Mỹ in ra được, để mua dầu. Thử hỏi trên thế giới này có quốc gia nào, ngoài Mỹ, có thể in tiền để mua dầu và sau đó các quốc gia sản xuất dầu lại giữ nợ cho tiền in đó?
Chi tiêu thỏa mái, đến nay nợ quốc gia của Mỹ đã có một con số khổng lồ là 20.000 tỷ USD, đã khiến đôi ba lần chính phủ đứng trước nguy cơ đóng cửa nhưng chỉ cần một vài “thao tác” của FED là chính phủ Mỹ hoạt động trở lại như đã thấy.
6. Mỹ sẽ bảo vệ Petrodollars bằng mọi giá
Hệ thống Petrodollars là một công cụ để Mỹ bá chủ thế giới có hiệu lực, họ sẽ làm tất cả để không ai có thể động đến hệ thống Petrodolallrs này, sẵn sàng dùng sức mạnh quân đội để ra tay.
Dĩ nhiên, đích mà Mỹ nhắm tới cũng chính là các quốc gia có nhiều dầu mỏ hoặc liên quan đến dầu mỏ.
Iraq nhiều dầu mỏ thế, nhưng khi dám chống lại Mỹ, vậy là Iraq đã gần suy kiệt sau thất bại trong Chiến tranh Vùng Vịnh lần 1 (bị tới 34 nước do Mỹ đứng đầu đánh cho “tơi tả”) và các lệnh trừng phạt của Liên Hợp Quốc do Mỹ giật dây sau đó. Ngoài ra, trước sức ép của Mỹ và đồng minh, Iraq còn phá hủy dần kho tên lửa của mình trong nỗ lực tránh nguy cơ nổ ra chiến tranh – một điều Iraq không hề mong muốn trong bối cảnh đất nước đang hết sức kiệt quệ và bị cấm vận.
Đáng tiếc, năm 2000, tổng thống Iraq, ông Saddam Hussein tuyên bố sẽ bán dầu thô bằng cả đồng euro chứ không chỉ lấy USD. Và khi các kho tên lửa bị chính người Iraq phá hủy để tránh chiến tranh xảy ra. Trớ trêu thay, chiến tranh lập tức đã xẩy ra. Mỹ dựng chuyện Hussein bí mật sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt đe dọa an ninh Mỹ để lật đổ chính quyền ông Hussein, đánh chiếm Iraq. Cái cớ thật sự là Mỹ muốn ngăn ngừa các nước thành viên OPEC bắt chước Iraq bán dầu lấy euro.
Năm 2011, ông Gaddafi tổng thống của Lybia đề xuất về đồng Dinar vàng, đồng tiền chung của châu Phi. Ông Gaddafi kêu gọi các nước châu Phi và Hồi giáo chung tay tạo ra một đồng tiền mới cạnh tranh với đồng USD. Theo kế hoạch này, Liên hiệp châu Phi – một tổ chức na ná như Liên hiệp châu Âu – sẽ chỉ bán dầu thô và các tài nguyên khác cho ai trả bằng đồng dinar vàng.
Nếu ý tưởng này thành sự thật, cán cân thương mại thế giới sẽ thay đổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống tài chính thế giới, lúc đó châu Phi sẽ trở thành một thế lực tài chính đáng gờm. Lúc đó Anthony Wile, Tổng Biên tập tờ Daily Bell, khi trả lời phỏng vấn tờ Russia Today năm 2011 đã tiên đoán rằng ông Gaddafi sẽ sớm bị lật đổ vì dám động chạm tới lợi ích của “thế lực ưu tú” tự cho mình cái quyền kiểm soát các ngân hàng trung ương thế giới. Và mấy tháng sau, liên quân Anh, Pháp, Mỹ – và sau đó là tổ chức quân sự NATO – tấn công Libya, lật đổ cái gọi là chế độ độc tài khát máu Gaddafi.
Câu chuyện của Iraq, Libya có lẽ là những minh chứng và trải nghiệm đau đớn nhất về cái giá phải trả khi muốn bãi bỏ hệ thống “petrodollar”, tức dùng USD để lượng giá dầu.
Venezuela là nước có trữ lượng dầu thô lớn nhất thế giới. Họ có ý muốn đưa quốc gia phát triển mà không dựa hơi Mỹ, thế là có ý chống đối, Mỹ đã ngứa mắt từ lâu và thế là cấm vận kinh tế. Do mối quan hệ căng thẳng với Mỹ, Venezuela phải đối mặt với rất nhiều vấn đề khi giữ tiền mặt là đôla Mỹ (USD), hay các tài sản được định giá bằng USD. Bởi, chúng đều nằm dưới sự giám sát của hệ thống tài chính Mỹ. Nếu Mỹ muốn thực hiện các lệnh trừng phạt đối với Venezuela bằng cách “đóng băng” tài sản của Caracas, thì quốc gia Nam Mỹ sẽ rất khó bảo vệ được tài sản của mình.
Và giọt nước tràn ly là khi Venezuela muốn bãi bỏ hệ thống “petrodollar” thông qua việc niêm yết giá dầu thô bằng đồng nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc vào ngày 15/09/2018. Và thế là tèn tén ten, Mỹ đã giật dây và chuẩn bị cho một cuộc đảo chính tại quốc gia Nam Mỹ này.
Câu chuyện của Iraq (chiến tranh vùng vịnh), Libya, Syria …(Mùa xuân Ả Rập) có lẽ là những minh chứng và trải nghiệm đau đớn nhất về cái giá phải trả khi muốn bãi bỏ hệ thống petrodollar, tức dùng USD để lượng giá dầu. Và sắp tới, có thể nạn nhân kế tiếp là Venezuela.
Đau đớn thay!
7. Nga đã đi tiên phong trong công cuộc lật đổ sự thống trị của Petrodollar.
Petrodollar đã hoạt động trơn chu cho đến khi nước Nga của Putin xuất hiện. Nga sẵn sàng bán dầu mỏ, khí đốt để đổi lấy đồng tiền khác ngoài đôla Mỹ và thông qua đó phá đi vị thế độc quyền của đồng đôla dầu mỏ. Một số nước khác như Iran cũng theo gương và loại bỏ đôla Mỹ khỏi giao dịch dầu mỏ của họ.
Năm 2016. Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ra lệnh phải tiến hành ngay lập tức đòn tấn công đầu tiên (First Strike) mang tên “Golden Tsar” nhằm vào “hệ thống Petrodollas” của Mỹ. Như tuyên bố của Sergey Glazyev, cố vấn hàng đầu của Kremlin đã cảnh báo các nhà lãnh đạo phương Tây rằng: “Người Mỹ càng hiếu chiến thì họ sẽ càng sớm thấy sự sụp đổ cuối cùng của đồng dollars. Thoát khỏi đồng dollars là cách duy nhất để các nạn nhân thoát khỏi sự xâm lược của Mỹ… và ngay khi Nga và Trung Quốc thông qua, đó có thể sẽ là sự kết thúc của quân đội Hoa Kỳ.”
Không chỉ có vậy, Nga cùng Trung Quốc còn tích cực xây dựng một hệ thống tài chính độc lập với hệ thống tài chính Mỹ. Thông qua đó, họ cho thế giới một lựa chọn thoát khỏi đồng đô la Mỹ. Đột nhiên, Mỹ không còn có thể in ra nguồn tiền vô tận để phung phí vào các cuộc chiến tranh và duy trì vị thế bá chủ thế giới của họ nữa.
Khi Petrodollar sụp đổ, sự thống trị của Mỹ sẽ không còn nữa, hi vọng lúc đó thế giới này sẽ hòa bình hơn!

Nguồn: Việt Râu.